Home Những bài viết về QT

Login Form





Countries

47.9%Viet Nam Viet Nam
43.2%United States United States
2.4%Canada Canada
2.2%Kuwait Kuwait
2%Australia Australia

Visitors

Today: 31
Yesterday: 67
This Week: 98
Last Week: 1151
This Month: 98
Last Month: 1964
Total: 26081


JoomlaWatch Stats 1.2.9 by Matej Koval
Những bài viết về Quê hương Quảng trị
BAY HƠI DANG TRẦM - Lê Văn Trạch PDF. In Email
Viết bởi Lê Phương Thảo   
Thứ hai, 02 Tháng 7 2012 00:00

BAY HƠI DANG TRẦM

Lê Văn Trạch

Theo đà tiến hóa và phát triển, con người chinh phục, cải tạo thiên nhiên để bảo đảm tồn tại, thỏa mãn nhu cầu vật chất trong sinh hoạt, với trí tưởng tượng và sự năng động khám phá, họ đã có những thành tựu đáng kể! Những kết quả đạt được đôi khi tác động ngược lại, phá hủy quân bình tự nhiên, tạo những mâu thuẫn gay gắt khó giải quyết, không chỉ ở môi trường mà chính ngay trong bản thân họ !


Bằng tuệ nhãn để thấy được những nguy cơ như thế, từ ngàn xưa, dưới  những hình thức hướng dẫn tâm linh khác nhau, nhiều bậc vĩ nhân đã đưa ra những giáo lý để dẫn dắt tâm thức đi theo đường thiện, nhằm tạo sự cân bằng, ổn định xã hội, tiến đến mục đích tối hậu là con người có được cuộc sống bình an, hạnh phúc .

 

Đất nước Việt Nam ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài văn hóa Trung Quốc, lấy triết lý Khổng Mạnh làm nền tảng, triết lý này nhấn mạnh đến sự tu dưỡng đức hạnh cá nhân, sự chính xác của các ràng buộc và quy phạm làm người, trên hết gia đình là đơn vị căn bản để kiến tạo xã hội, tất cả đó nhằm thiết lập một quan hệ gắn bó và những điều lệ khắt khe kèm theo như một thứ Đạo giữa mọi thành phần xã hội: Vua-Tôi, Cha-Con, Thầy-Trò, Chồng-Vợ … mục đích giữ gìn giềng mối kỷ cương phép nước, một cách tổng quát, họ phân công cụ thể theo giới tính: Đàn ông lo việc bên ngoài, đàn bà chăm sóc chuyện gia đình theo những ước lệ định sẵn: Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín và Công - Dung - Ngôn - Hạnh với khuôn mẫu phải theo:

Trai thời trung hiếu làm đầu

Gái thời tiết hạnh làm câu răn mình

Người con trai phải trung với vua, hiếu với cha mẹ, chăm lo trau dồi kiến thức để phục vụ xã hội, ý tưởng này là một bắt buộc rất quyết liệt, biểu tượng sự hiện hữu, sống chết !

Có trung hiếu mới đứng trong trời đất

Không công danh thà nát với cỏ cây


Đối với phụ nữ trong tứ đức, tiết hạnh là điều quan trọng, chả thế mà nhà vua có bảng vàng  Tiết Hạnh Khả Phong để ban cho những người mẫu mực, sắt son gìn giữ !


Từ ngàn xưa, trinh tiết của người phụ nữ được loài người quan tâm đúng mức, tùy theo truyền thống văn hóa và tôn giáo, mỗi khu vực đều có quan niệm, cách hành xử riêng … có bộ lạc ở châu Phi xem trinh tiết của con gái là tài sản của cha mẹ, có quyền rao bán, chàng nào trả giá cao nhất sẽ được . Trong lúc đó ở Ấn độ vào thời cổ đại, trinh tiết là một thứ linh thiêng, người phàm tục không được thụ hưởng, kể cả vua chúa, các đạo sĩ, thầy cúng, đại diện thần linh đón nhận sự dâng cúng này ! Cùng thời điểm đó, tại Ai Cập lại kỳ quái hơn: xứ sở này tôn sùng thần Kim Ngưu, người ta chọn nuôi những con bò thuần chủng, sau bốn tháng tuổi, đem đến miếu thờ để các trinh nữ hành lễ hiến dâng ! Ngay ở thế kỷ 21, tại Iran, tử tội trinh nữ phải bị phá trinh trước giờ hành quyết ! Người Mỹ lại khác, một số học sinh sau ngày ra trường High School, sẽ có một bữa tiệc lớn gọi là Prom, người con gái dâng hiến trinh tiết cho bạn trai để ghi nhận sự trưởng thành, đã ở thế chủ động, tự lập, không còn lệ thuộc vào cha mẹ nữa !


Đối với truyền thống văn hóa Việt Nam, trinh tiết là điều cốt lõi, đánh giá phẩm hạnh cá nhân, hơn ai hết, người con gái được dạy dỗ để giữ gìn và chỉ trao cho người con trai sau khi làm lễ thành hôn có sự chứng giám và chấp nhận của Tổ tiên Ông Bà Cha Mẹ, thực sự là người chồng của mình ....


Trong một lần hẹn hò, Kim Trọng ngắm nhan sắc Thúy Kiều, con tim rạo rực và bản năng chiếm hữu hiện ra như thói thường của người con trai khi ngồi cạnh người yêu:

Sóng tình dường đã xiêu xiêu

Xem trong âu yếm có chiều lả lơi


Thúy Kiều cảm nhận điều ấy, nhưng vốn được giáo dục chu đáo về quan hệ nam nữ khi chàng chưa là chồng của mình, nàng đã nhẹ nhàng ngăn lại:

Vẽ chi một đóa yêu đào

Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh

Đã cho vào bậc bố kinh

Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu

Ngoài ra, trinh tiết của người con gái Việt Nam còn là uy tín dòng họ và danh dự làng xã: Trong tục lệ cưới hỏi, khi đưa dâu về nhà chồng, bà cô hoặc bà dì ở lại, để trong đêm động phòng, nếu người chồng phát hiện vợ mình mất trinh, sẽ dựng giường lên, đuổi cô gái ra khỏi nhà, bà Dì / Cô kia có nhiệm vụ dẫn cháu trở về !


Có nhiều làng có những luật lệ khắt khe, dã man đối với phụ nữ không chồng mà chửa (chửa hoang) bằng cách đào hố, nằm xỉa úp bụng xuống mặt đất, giăng nọc ra (đóng 4 cọc và trói tứ chi vào đó), rồi đánh, có nơi đuổi cô gái ra khỏi làng !


Có thể ở góc khuất thầm kín của Tình yêu, người con gái cắn răng chịu đựng những hậu quả do sự mất mát của mình, nhưng Cha Mẹ là người đau khổ, cảm thấy xấu hổ đối với những người chung quanh, gia đình nào có con gái phạm lỗi xem như " Gia môn bất hạnh" ! Đặc biệt người Mẹ, tự thấy trách nhiệm thuộc về mình (Con hư tại Mạ, má hư tại trưa), chẳng yên tâm để làm được việc gì !

Kim găm hò áo mất rồi

Uổng công, Cha Mẹ đứng ngồi không yên !

Màng trinh chỉ là cấu tạo của cơ thể theo bình thường vật lý, sự mất đi đánh dấu một thay đổi để chuyển sang giai đoạn phát triển toàn diện mang trạng thái hoàn hảo khác. Nhưng theo quan niệm người xưa, nó là tiết hạnh, là kho báu vô cùng quý giá, hơn thế, còn là một biểu tượng thiêng liêng, mất nó, mất tất cả:

Ôi thôi rồi khóa rớt chìa rơi

Rương vàng hở nắp, bay hơi dang trầm

(Có bản ghi: Lư đồng hở nắp, bay hơi dang trầm. Trên thực tế là vậy, bởi vì khi xông trầm, nắp có hở, hương trầm mới bay ra, chuyện thường tình, thế thì đâu có gì để phải thất thanh kêu trời ! Rương vàng là câu nói ẩn dụ biểu trưng cho một diễn đạt khác, để bổ sung ý này, ta hãy nghe lời than vãn của chàng trai khi bị người tình phụ:

Lư hương trầm

Ngày nào em nói em thương,

Như trầm mà để trong rương chắc rồi.

Bây giờ khoá rớt chìa rơi.

Rương long nắp vỡ, bay hơi mùi trầm)


Xem đây như là lời của người Mẹ,  đưa hai bàn tay ra, thảng thốt kêu trời " Ôi thôi rồi ! " - đặc ngữ biểu tượng một mất mát bất ngờ ập đến ... khóa, chìa mỗi thứ một nơi, bị bẻ gãy, kho tàng mất sạch !

Chữ Trinh đáng giá ngàn vàng !

Nhưng ở đây, vàng bị đẩy xuống một bậc, chỉ là vật liệu, chiếc rương để giữ thứ quý giá hơn, không những thế mà còn cung kính thiêng liêng nữa  !


Từ trạng thái vật lý bình thường, sự trinh tiết mang ý nghĩa trang trọng, đôi khi như là huyền thoại, ảnh hưởng cả một nền đạo lý, cho nên khi rương vàng hở nắp, hơi dang trầm bay đi, tất cả sụp đổ, kéo theo chuỗi hệ lụy ràng buộc, đan chéo nhau !


"Đập cổ kính ra .. " để trân quý một thời tổ tiên ta đã có những ý niệm đúng mức về giá trị đạo đức trong quan hệ giữa con người, ý niệm ấy là động lực tạo sự bình an, niềm tin để cùng nắm tay nhau xây dựng và phát triển, hình thành một giai đoạn lịch sử thịnh vượng, bờ cõi được mở mang, để chúng ta có được một giải giang sơn gấm vóc như hôm nay .

Lê Văn Trạch

Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

Lần cập nhật cuối lúc Thứ ba, 03 Tháng 7 2012 16:46
 
LỄ HỘI KỲ YÊN Ở ĐÌNH LÀNG NẠI CỬU PDF. In Email
Viết bởi NGUYỄN HỒNG HIẾN   
Thứ tư, 19 Tháng 10 2011 14:21

Trần Quang và Lê Văn Hà Tìm hiểu và phân tích kỹ một lễ hội dân gian ở vùng nông thôn tỉnh Quảng Trị quả là không dễ. Dù Quảng Trị là vùng đất có bề dày lịch sử văn hóa nhưng qua hai cuộc chiến tranh, nhiều kiến trúc văn hóa vật chất như: đình, chùa, miếu mạo bị tàn phá nặng nề cái còn cái mất. Cái còn thì đã rêu phong hoang phế, hoặc là những kiến trúc mới được xây dựng lại trong những năm gần đây. Những lễ hội dân gian gắn liền với đình, chùa, đền miếu do vậy cứ bị mai một dần đi, mặt khác dù nhu cầu văn hóa tinh thần của đời sống tâm linh là lớn nhưng đời sống hiện tại còn gặp muôn vàn khó khăn chế ngự nên lễ hội có tính quy mô, rầm rộ ít được diễn ra. Tuy nhiên, lễ hội dân gian là khát vọng tinh thần, là sinh hoạt văn hóa làm nên diện mạo của một vùng đất, tạo nên nhân cách, bản sắc riêng của người dân sống trên vùng đất đó. Nó là yếu tố cơ bản tạo nên sức sống mảnh liệt trong tâm thức của con người, tồn tại cùng con người thuở khai khẩn vùng đất mới, đồng hành trên bước đường con người kiếm tìm hạnh phúc, tạo lập và xây dựng nên những mảnh làng. Tất nhiên bất kỳ một lễ hội dân gian nào đều có những mặt phải và mặt trái của nó. Dưới đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt là đất nước đang triển khai cuộc vận động lớn “xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa”, vấn đề tìm hiểu và khôi phục một lễ hội dân gian để phát huy những giá trị truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, gạt bỏ những yếu tố lạc hậu mang màu sắc mê tín là một việc làm có ý nghĩa nhân bản. Với suy nghĩ này, chúng tôi đã tìm về làng Nại Cửu thuộc xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị để tìm hiểu. Đây là một làng có bề dày lịch sử khá lâu đời gắn liền với những cuộc "nam tiến" của ông cha, có nhiều thành tựu vẻ vang trong chống giặc ngoại xâm, trong lĩnh vực giáo dục, gắn liền với nhiều tên tuổi của nhiều người được cả nước biết đến. Tên làng Nại Cửu có nghĩa là "chịu đựng lâu" thể hiện tính cách bền bỉ, kiên nhẫn chịu đựng mọi khó khăn gian khổ để vươn tới khát vọng ấm no, hạnh phúc của người dân nơi đây; và trong tiến trình đi lên, dân làng Nại Cửu đã đạt được những thành tựu không nhỏ để tạo nhân cách riêng của một làng quê Việt Nam. Làng Nại Cửu từ xưa có nhiều lễ hội như: Lễ thành hoàng, lễ hạ canh, lễ hạ ương, hội thi cày đất khô, hội thi kéo co, thi bơi trãi, hò giả gạo...Tuy nhiên qua nhiều thời gian và hoàn cảnh sống có những đổi thay nên đã dần dần mất đi chỉ còn lại một lễ hội đáng chú ý hơn cả là lễ hội Kỳ yên (hoặc là Cầu an hay siêu yên) được dân làng Nại Cửu duy trì hàng năm tại đình làng Nại Cửu vào ngày rằm tháng bảy. 1. Vài nét về lịch sử làng Nại Cửu: Năm 1347, kỷ nhà Trần, biên giới Đại việt chỉ từ Quảng Bình trở ra Bắc. Sau cuộc hôn nhân Việt-Chăm, Vua Chăm pa là Chế Mân dâng 2 châu: Châu Ô và Châu Lý để đổi lấy Huyền Trân Công Chúa. Nhà Trần đổi 2 Châu này thành Châu Thuận và Châu Hóa. Để mở mang bờ cõi, nhà Trần đã kêu gọi dân chúng ở phía Bắc (Thanh Hóa, Nghệ An, một số ít người Nam Định) vào khai khẩn vùng đất mới. Năm 1471, Vua Lê Thánh Tông tiến hành cuộc chinh phạt quân Chiêm Thành lần thứ 2. Nhiều chiến binh sau cuộc "Chinh Tây" thắng lợi đã lưu lại vùng đất mới khai khẩn lập ấp, tiếp tục đưa thêm con cháu vào hiệp lực tạo nên làng Nại Cửu. Qua 18 thế hệ kế tiếp nhau mà qua gia phả của 6 họ: Lê, Nguyễn, Hoàng, Võ, Phan, Trần còn lưu trữ thể hiện một bề dày lịch sử với một quá trình phát triển mạnh mẽ tạo nên cộng đồng Nại Cửu hôn nay với diện tích đất tự nhiên 232 ha, đất canh tác 138 ha, với gần 3000 người chưa kể số người xa quê đây đó, làm ăn sinh sống tiếp tục tạo dựng những quê hương mới trên đất nước Việt Nam thân yêu. Làng Nại Cửu có vị trí địa lý Bắc giáp ba làng: Bích La Đông, Bích La Trung, Bích La Nam( đồng thuộc xã Triệu Đông), Nam giáp hai làng: Thâm Triều, An Tiêm (xã Triệu Tài và xã Triệu Thành), Đông giáp 2 làng: Anh Tuấn, Tả Hữu (xã Triệu Tài), Tây giáp 3 làng: Cổ Thành, Hậu Kiên, Bích Khê (Thuộc xã Triệu Thành và xã Triệu Long). Là một làng nông nghiệp nên nghề nghiệp chủ yếu là nông nghiệp, có một số nghề khác như dịch vụ buôn bán, may, mộc, nề...Tổng thu nhập bình quân đạt trên 300USD/người/năm. Mặc dù mức sống chưa cao nhưng người dân Nại Cửu rất chú trọng đến vấn đề giáo dục, 100% phổ cập tiểu học, nhiều tiến sĩ, phó tiến sĩ, bác sĩ, kỷ sư, cử nhân... đang công tác ở nhiều ngành và đặc biệt có một đội ngủ đông đúc làm nghề giảng dạy ở khắp mọi miền đất nước, đó chính là hệ quả tất yếu của một truyền thống hiếu học vốn có từ xưa. Lần tìm gia phả các Họ có thể thấy được nhiều vị đổ đạt làm quan qua các triều đại phong kiến trở thành niềm tự hào của hậu thế. 1. Tiến sĩ Trần Văn Thoại (Đời Lê Hiển Tông) 2. Cử nhân Lê Trọng Điều (Làm quan phủ đời Minh Mạng) 3. Cử nhân Lê Trọng Huy (Làm quan phủ đời Thiệu Trị) 4. Cử nhân Lê Trọng Huyên (Làm quan phủ đời Tự Đức) 5. Cử nhân Lê Văn Trung làm cận vệ cho phụ chính Đại thần Tôn Thấy Thuyết. 6. Nguyễn Đức Nghi (Tham tri Bộ Lễ thời Tự Đức) 7. Phó Bảng Võ Tử Văn, thời đại Tự Đức được tôn vinh "Bậc thơ thánh thổ thần" là Thái Tử Thiếu bảo (dạy con vua) văn minh điện học sĩ, một chủ khoa tài ba. Thời hiện đại có các vị tiêu biểu sau: 1. Trần Quỳnh (Nguyên Phó Thủ Tướng chính phủ) 2. Lê Lăng ( Nguyên Thứ trưởng Bộ ngoại thương) 3. Hoàng Hữu Bình (Tiến sĩ, cục trưởng cụ Hóa chất) 4. Nguyễn Liêm ( Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam) 5. Lê Sơn (Thiếu Tướng Quân đội nhân dân Việt Nam) 6. Lê Hữu Thỏa (Thiếu Tướng Quân đội nhân dân Việt Nam) Và nhiều vị có chức sắc, học hàm, học vị không thể thống kê hết được. Trải qua trên dưới 500 năm tồn tại và phát triển, đất và người Nại Cửu của 18 thế hệ kế tiếp nhau đã chịu đựng nhiều gian khổ, hy sinh, bền gian, kiên nhẩn, tương thân, tương ái, đùm bọc nhau trong tình làng nghĩa xóm để xây dựng và bảo vệ quê hương và đất nước. Đó là một truyền thống quý báu đáng tự hào và trân trọng của người dân làng Nại Cửu. Truyền thống này chính là xuất phát từ tác động của những sinh hoạt văn hóa lễ hội, của tính hiếu học đúc kết nghìn đời mà ta đang đề cập ở trên lễ hội Kỳ yên ở đình Nại Cửu. 2. Nại Cửu đình và lễ hội Kỳ yên: a. Đình Nại Cửu không xác định được xây dựng từ năm nào trong lịch sử, chỉ có thể nói sơ lược như sau: Năm 1886 bị giặc Pháp đốt, năm 1900 được làm lại bằng tre, năm 1935 lại bị đốt, 1942 làm lại, năm 1958 được sửa chữa thêm, năm 1972 chiến tranh tàn phá, năm 1990 xây lại như hiện tại. Đình Nại Cửu có một đặc trưng riêng biệt là có mái đình (có sắc chỉ của Vua ban) khác với Đình của nơi khác, ngôi đình hiện nay có chiều rộng 6m, chiều dài 14m tọa lạc trên khu đất rộng, quay mặt về hướng nam. Cổng đình có hai câu đối bằng chữ Hán đã mờ vì gió bụi thời gian. Phần sân đình ở giữa là bức bình phong có trang trí một con Nghê làm bằng mãnh vỡ, trên lưng nghê mang một chiếc hộp màu vàng có thắt nơ kiểu bướm (chiếc hộp này tượng trưng bằng sắc của các học sĩ). Phía dưới là âm hồn, phía trên là văn chỉ, phiá đông sân đình là bức thờ âm hồn, phía tây sân đình thờ bức có hai chữ Hán "Thánh Tiên" (chỉ bậc thánh hiền đời trước là Khổng Tử). Mái đình lợp ngói móc, trên nóc có biểu tượng âm dương ở giữa, hai bên nóc có hai rồng đối xứng, 4 góc mái đình là 4 con chim phượng. Mặt trước đình ở trên gần sát mái có 5 bức tranh vẽ chim, thú, cây cảnh, bên trái của đình có bức tranh vẽ rồng trên mây, bên phải là hổ trong rừng (tả thanh long, hữu bạch hổ). Trong điện thờ gồm có năm gian đặt năm bàn thờ. Ngày xưa thờ thần chủ, nay thờ bằng lư hương. 1. Bàn thờ thứ nhất (ở phí tây): Thờ thổ thần, hai chữ thổ thần viết bằng chử Hán ở trên tường, hai bên có hai câu đối như sau: "Địa hậu bát tiết thảo mọc sum Tổ vương trí thời nhân tài tụ" Tạm dịch: "Đất màu mở, tám tiết trời trong năm cỏ cây đều tươi tốt Phúc tổ lớn, bốn mùa tụ hội lắm người tài" Trên bàn thờ của thổ thần có hai lư hương 2. Bàn thờ thứ 2 (giáp bàn thờ thổ thần): Thờ bốn vị tiền khai khẩn của bốn họ: Lê, Nguyễn, Võ và một vị tiền khai khẩn của họ Đinh nhưng vì họ Đinh ở Nại Cửu về sau vô tự nên hình thức thờ chỉ còn là "Đinh gia phụ hưởng". Trên tường sau bàn thờ có hai chử Hán "Khởi thủy". Trang trí hai bên chữ "Khởi thủy" (mở đầu) là hai con chim phượng ngậm đóa sen đứng trên lưng rùa. 3. Bàn thờ thứ ba (tức bàn thờ chánh giữa): Thờ 11 vị thần gồm 7 lư hương, trên tường có ba chữ hán "Kỉnh như tại" (nghĩa là cung kính mời ngồi) lúc hành lễ ông thần nào to thì mời ngồi lên bàn thờ này. Mười một vị thần của bàn thờ này được nhà Vua sắc phong cho làng Nại Cửu thờ tự (Theo “Quảng Trị tỉnh thành hoàng chí” của Triều Tự Đức hiện có lưu ở thư viện Khoa học trung ương số 26 Lý Thường Kiệt - Hà Nội), 11 vị thần đó là: 1. Cao các quảng độ gia tặng dực bảo trung hưng thượng đẳng thần 2. Bổn thổ thần hoàng gia tặng tịnh hậu trung hưng thượng đẳng thần 3. Ngủ hành sắc phong tán hóa mặc vân thuận thành tự điều, tư nguyên trung huy dực bảo trung hưng thượng đẳng thần 4. Chúa ngọc sắc phong nhân uyển gia tặng trung huy dực bảo trung hưng thượng đẳng thần (Huyền Trân Công Chúa) 5. Hồng nương tiên phi gia tặng trung huy dực bảo trung hưng thượng đẳng thần ( thờ bà vú nuôi của Huyền Trân Công Chúa) 6. Cai trị nam dương hầu Hoàng tôn thần. Năm vị ngũ hành thờ vào một lư hương, sáu vị kia thờ vào một lư hương. Trang trí hai bên chữ "Kỉnh như tại" giống như ở bức bàn thờ thứ hai. 4. Bàn thờ thứ tư: Thờ ba vị tiền khai khẩn ba họ: Hoàng, Phan, Trần và Lê nhị vị quý công (vị hậu khai canh - khai canh thêm một phường Nại Cửu ở vùng trung du thuộc xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Trên tường sau bàn thờ có hai chữ "khai nguyên" (nghĩa là mở một kỷ nguyên mới). Trang trí ở hai bên chữ này giống như ở bàn thờ thứ hai và thứ ba. 5. Bàn thờ thứ năm (bàn thờ cuối cùng ở phía đông): Trên tường phía sau bàn thờ có hai chữ " Khoa hoạn" (nghĩa là đổ đạt làm quan). Ngày trước là: Lịch triều khoa hoạn quan viên trùng tự (có thờ mà không lạy). Thờ những vị đỗ đạt trên con đường khoa cử, làm quan qua các triều đại phong kiến và cả thời hiện đại, biểu hiện của một niềm tôn vinh, tự hào về truyền thống hiếu học. Đó cũng là cách giáo hóa cho các thế hệ hậu sinh noi theo. Hai câu đối bên chữ "Khoa hoạn" là: "Quang tiên dư hậu võ, văn, toán Tích tụ kim ba khoa hoạn đạt" Tạm dịch: "Rạng rỡ tổ tiên mãi về sau vì võ, văn, toán Tích tụ truyền đi ánh vàng của khoa bảng làm quan" Về mặt tổng thể kiến trúc đình Nại Cửu là kiến trúc đối xứng nhau tạo nên sự hòa điệu theo đúng kiến trúc văn hóa phương Đông. b. Lễ hội Kỳ yên: Lễ hội kỳ yên ở Nại Cửu đình thực chất là sinh hoạt văn hóa nhằm thỏa mãn khát vọng tinh thần, là cầu mong cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc, là niềm tôn kính hướng về trời đất, hướng về các vị anh hùng có công với nước, các vị khai khẩn lập làng, các vị khai canh, các vị khoa bảng làm rạng danh tổ tiên. Đình Nại Cửu ngày xưa không chỉ là nơi tế tự, hành lễ mà còn là trụ sở để các vị nhân sĩ, trí thức hội họp bàn định kế sách ích nước lợi nhà. Từ ngôi đình làng này, bao thế hệ người dân Nại Cửu đã hun đúc được hồn thiêng của ông cha, nguyên khí trời đất, tinh hoa của văn hóa làng được đúc kết qua các tấm gương hiếu học, tiếp tục đóng góp nhiều công lao cho đất nước. Như đã nói lễ hội Kỳ Yên ở đình Nại Cửu diễn ra ngày rằm tháng bảy hàng năm. Ngày xưa ban tế lễ gọi là ban "Đại hào tộc biểu", thường gồm các lý trưởng, các tộc trưởng, trùm xóm. Ngày nay ban tế lễ gọi là hội đồng gồm các trưởng họ, đội trưởng sản xuất tiến hành họp để tổ chức các bước lễ và phân công người phục vụ lễ, gồm: - Chấp sự: gồm hai người đánh chiêng trống (phải là những người đứng đầu làng có uy tín cao) - Một tự chúc: Là người đọc văn tế - Một tư văn xướng lễ: Là trưởng ban lễ tế - Bốn tư xướng: (hai đông xướng, hai tây xướng) - Sáu tư hiến: ở ba bàn, một bàn hai tư hiến - 29 đồng hầu: đội múa đèn lúc hành lễ - có một đội trưởng chỉ huy - 16 cận vệ: (mang các thứ vủ khí giáo mác tượng trưng) - 4 vị cầm tán để che trên kiệu rước thần - Một chánh tế được che lọng xanh - Hai bồi tế được che hai lọng xanh - Hai chấp sự được che hai lọng xanh - Một ban nhạc cổ gồm bốn người (một trống, hai kèn, một sao) Trước chiến tranh làng Nại Cửu có một kiến trúc văn hóa liên quan đến lễ Kỳ Yên này có tên gọi là Nghè, nằm ở Bèng (vùng đất đầu làng Nại Cửu, tiếp giáp với làng Bích Khê, xã Triệu Long), đây là nơi thờ các vị thần đã nói ở trên (phần mô tả đền thờ, nay đã bị chiến tranh tàn phá). Trước khi đi vào tế lễ Kỳ Yên có ba lễ: Lễ cáo giang sơn, Lễ giết bò lợn để cáo trời đất, quỷ thần (cáo tế sanh) ở sân đình. Lễ thứ hai là lễ nghinh thần tiến hành khoảng giờ mùi (2giờ chiều tại Nghè), thành phần tế lễ như trên. Sau đó, Ban lễ lên tại Nghè để cáo nghinh đánh chiêng trống rước thần về đình. Đi trước thần gồm có ba kiệu, có ba tàn vàng che. Trình tự các kiệu được rước đi như sau: Kiệu các vị tiền khai khẩn (trong kiệu có bảy bào vị) Kiệu ngũ hành, Chúa Ngọc hồng nương tiên phi (có năm bài vị) Kiệu thứ ba gồm hai bài vị (một bài vị sâu và một bài vị cạn), bài vị sâu là "Cao các quảng độ đại vương và Thành hoàng", bài vị cạn là "Thổ thần" Ba kiệu này được rước đi từ Nghè trong tiếng chiêng, trống, sao, kèn rộn rã trên những nẻo đường của thôn làng Nại Cửu. Về tới đình, giờ Thân (bốn giờ chiều) ban tế tiến hành tế túc yết (cáo sơ bộ). Lễ vật gồm bò hoặc heo (nguyên con) gọi là tế đại hiến, và chỉ có đình làng Nại Cửu mới được tế đại hiến (Theo ý chỉ của vua Đồng Khánh) còn các đình làng khác thì chỉ được phép tế tiểu hiến (thịt vai) hoặc trung hiến (thịt đầu và bốn móng giò). Ngoài bò hoặc heo ra còn có thêm hương hoa, quả, trầm, trà. Ở am thờ Khổng Tử ngoài sân thì cúng gừng muối. Lúc "tế túc yết" vị tư chúc đọc bài văn tế có nội dung như sau: (đây là một ví dụ một bài văn tế đình) "Duy Bảo đại thập bát niên, tuế thứ Nhâm Ngọ thất nguyệt thập tứ nhất (năm thứ 18 thời Bảo Đại, năm Nhâm Ngọ, ngày 14 tháng 7 Âm lịch) Đại Nam quốc, Quảng Trị tỉnh, Triệu Phong phủ, Bích La tổng, Nại Cửu thôn. Kim tế chủ, chánh tế cử nhân cập đệ, ngũ phẩm văn giai, hàn lâm viện thị học, bản triều hình bộ tả chủ sự, tiên chỉ Lê châm. Đồng hương xã, nam phụ lão ấu đẳng. Ngôn niệm, vũ thuận, phong điền, an cư lạc nghiệp nhân kiệt địa linh, bao hàm chi đức. Tư giả bổn nguyệt, khí nhật, thiết lễ cúng tạ thù ân. Cẩn dĩ hương đăng hoa quả phù lưu, thanh chước bạch soạn, phẩm vật thứ phẩm nghi ghi. Hữu Cẩn Cung Tiến vu! Cao các quảng độ gia tặng trung huy dực bảo trung hưng thượng đẳng thần. Bổn thổ tịnh hậu thành hoàng, gia tăng bảo dực trung hưng thượng đẳng thần. Ngũ hành sắc phong tán hóa, mặc vận thuận thành. Điều tư tương nguyên trung huy dực bảo trung hưng thượng đẳng thần. Chúa ngọc sắc phong nhàn uyển gia tặng dực bảo trung hưng thượng đẳng thần. Cai trì nam dương hầu Hoàng tôn thần Cai tổng hùng thắng bá Phan tôn thần, bổn thổ chi thần. Lục tộc tiền khai khẩn Lê, Nguyễn, Võ, Hoàng, Phan, Trần sắc phong linh phù bảo ứng đại lang tôn thần. Đinh gia hậu khai canh. Lê nhị vị quý công Thị tùng nhất thiết, tả hữu chư vị thị vệ quí nhân. Phúc nguyện hoàng thiên giáng phước, phước lưu vĩnh vĩnh vô cùng, hậu thổ thi ân giáng miên miên bất tận. Hương dân thanh cát, trưởng ấu hòa bình. Trụ đông, tây, nam, bắc chi tài; nạp xuân, hạ thu đông chi lợi. Ngưỡng lại tôn thần phò trừ chi gia huệ giả. Cẩm cáo!" Tạm dịch: "Năm thứ 18, Triều Bảo Đại, năm Nhâm Ngọ, ngày 14 tháng bảy Nước Việt Nam, tỉnh Quảng Trị, phủ Triệu Phong, tổng Bích La, thôn Nại Cửu. Nay chủ trương tế, ngài chủ tế là Cử nhân hàm ngũ phẩm văn giai, chức này của Triều đình, làm trưởng phòng của Bộ hình là tiên chỉ Lê Châm. Cùng với dân làng già trẻ. Nghĩ rằng mưa thuận, gió hòa, an cư lạc nghiệp, người giỏi đất thiêng là do cái đức của đất trời. Nghĩ vậy, tháng này bày lễ cúng tạ báo ân. Kính dâng hương, đèn, hoa, quả, cau trầu, nước trong, đồ giấy, các loại phẩm vật không đáng kể để làm nghi lễ. Kính cẩn cúng lên! Thần cao các tên Quảng Độ (thời Lê Huy Tông) ban sắc phong là thượng đẳng thần. Ngài thần hoàng tên là Tịnh Hậu được phong là thượng đẳng thần. Năm vị tên ngũ hành cũng được phong là thượng đẳng thần. Chúa ngọc (Huyền Trân Công Chúa) cũng được phong là thượng đẳng thần. Hồng nương tiên phi (vú nuôi Huyền Trân Công Chúa) được phong thượng đẳng thần. Ngài cai trị nam dương được phong thần. Ngài cai tổng Hùng thắng bá được phong thần. Sáu ngài khai khẩn sáu họ được phong thần. Ngài họ Đinh là hậu khai canh. Hai vị khai canh họ Lê (khai canh phường Nại Cửu thuộc xã Triệu ái, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Đi theo các vị thần có tả hữu các ngài thị vệ. Trời ban phước xuống thì phước còn mãi mãi, đất làm ơn thì ơn đất cũng mãi mãi không hết. Dân làng trong sạch, già trẻ hòa bình, nhận được tiền tài bốn phương đưa lại và thu hoạch đều được cả bốn mùa. Cúi mong các vị tôn thần giữ gìn và gia ơn. Kính cẩn cáo nghênh! Sau khi đọc văn tế xong, chánh tế và bối tế vái lạy, khấn nguyện trước ba bàn thờ thứ hai, thứ ba, thứ tư (tức hai bàn thờ lục tộc và một bàn thờ 11 vị thần) còn bàn thờ phía đông và phía tây không lạy. Tiếp theo chánh tế và bồi tế, dân làng lần lượt vào ba bàn thờ trên để vái lạy với tất cả sự tôn nghiêm và thần kính. Sau tế Túc yết, ban nhạc cổ tấu nhạc các điệu “Lưu Thủy, Hành Vân, Kim Tiền hoặc cổ bản”, đồng thời đội đồng hầu 29 người dưới sự chỉ huy của một đội trưởng, mổi người cầm hai đèn hoa sen vừa múa, vừa hát một bài hát có tên “Giang sơn cẩm tú”: “Nại Cửu giang sơn cho được lâu dài, tối sớm hôm mai dân cư, dân cư được no ấm, tiền của đầy vơi, bình an vô sự, sinh sự mặc ai, mặc ai. Nay sĩ tử mở mắt với đời theo kịp với người rõ mặt trai, mặt trai, đèn văn minh soi khắp mọi nơi. Ơn vua là vua nợ nước, trên nhờ thần thánh phòng dữ ách tai, ách tai, sinh sự mặc ai, mặc ai”. Nội dung bài hát ca ngợi đức tính kiên trì, nhẫn nại của người dân làng Nại Cửu. Trang phục của đội đồng hầu này là áo dài, quần trắng, thắt lưng bằng lụa năm sắc còn bắt chéo qua vai, chân quấn xà cạp, đầu đội khăn màu đỏ. Trong quá trình múa và hát giữu điệu hành vân, lưu thủy như mây trôi nước chảy, đội đồng hầu múa và sắp thành tầng nhà lầu (nhiều tầng người chồng lên nhau thành nhiều thang bậc) rồi toả xuống lộn hàng xà (lộn qua lộn lại), tiếp đến là chạy khu ốc lớn nhỏ (chạy theo hình trôn ốc rồi sắp thành bốn chữ “Thiên hạ thái bình” bằng chữ Hán. Lúc này ở trước hồ sen của đình làng có đốt pháo hoa làm cho đêm tế lễ càng lung linh, kỳ ảo và thiêng liêng. Về khuya dân làng tập trung trước sân đình thi hò giả gạo, bên xướng bên hò đến là náo nhiệt để chờ đến giờ Tý, ban tế vào điện “tế tạ” triệt soạn lễ tất. Trình tự tế gồm các bước như sau: - Xướng thị lập (tất cả đều đứng dậy) Chấp sự giã các tư kỳ sự, tế viên dự chấp sự giả, các nghệ quán tại sở (Các người đến chổ rữa tay) - Quán tẩy (rữa tay) - Thuế cân (lau tay) - Khởi chinh cổ (đánh chiêng, trống). - Cũ soát tế vật (soát lại lễ vật) - Ế mao huyết - Tả hữu hiến các tự vị (các vị hai bên tả hữu vào chổ) - Bồi tế viên tự (chỉ vị bồi tế) - Trung hiến tự vị (chỉ lễ trung hiến) + Chánh tế viên tự vị (chỉ vị chánh tế) + Phần hương, nghệ hương án tiền (đối hương ở tiền án) + Quì + Phần hương (đốt hương) + Thượng hương (đưa hương lên) + Phủ phục + Hương bái (hai lần cầm hương bái) + Hưng (đứng lên hai lần) + Bình thân phục vị (về tại chổ cũ) + Nghinh thần cúc cung bái (bái nghinh thần một cách cung kính) + Hưng (lạy bốn lạy) + Bình thân - Hành sơ hiến lễ (chuẩn bị lễ sơ hiến) + Tế viên các nghệ thần vị tiền + Các hiến chước tửu (rót rượu) + Cử thủ hoành mi (nâng ly rượu lên ngang mày), (lúc này trống chiêng đổ hồi). + Tấn tước (đi chân chữ bát-các hiến) + Giai quì (quì vái một vái rồi đứng dậy) + Hiến tước (đặt rượu lên bàn thờ) + Các hiến hồi vị (các hiến về chổ) + Phủ phục (Hưng bái hai lần) + Bình thân + Phục vị Xướng tiếp: + Độc chúc, nghệ đọc chúc vị (chỉ ba ông chánh tế) + Độc chúc viên nghệ giá chúc vị + Chuyển chúc (lấy văn trên bàn thờ xuống) + Giai quì + Đọc chúc (đọc văn tế) + Hoàn chúc (đặt văn lại trên bàn thờ) + Đọc chúc viên hồi vị (vị đọc văn về chổ) + Phủ phục + Hưng bái (hai lần, hai lạy) + Bình thân + Phục vị - Hành á hiến lễ, hành chung hiến lễ (hai lễ này cũng gồm những bước như sơ hiến lễ) Phần lễ tạ: + Ẩm phước nghệ ẩm phước vị (chỉ một mình chánh tế) + Quì + Ẩm phước (lấy một chén rượu đưa chánh tế uống) + Thụ tộ (ăn một lát thịt vai họăc cau trầu) + Phủ phục + Hưng bái (hai lần) + Bình thân + Phục vị + Tiến trà (dâng trà) + Tống thần cung bái (lễ bái tiển các thần) + Hưng (bốn lạy) + Bình thân + Phân bái Xướng tiếp + Hương trưởng + Quan viên chức sắc + Lão hàm + Lão dân + Ba hạng (mời các vị thuộc thành phần trên vào lạy) + Phục vị + Lễ từ cúc cung bái (bốn lạy) + Bình thân Phần bạch soạn ( đốt vàng và văn sớ) + Triệt soạn (hạ đưa) + Lễ tất (hết lễ) Lễ hội Kỳ Yên ở đình Nại Cửu cứ ba năm mới tế to một lần còn các năm khác thì tế thường (tế chay), lễ vật cũng đơn giản chỉ là hương, hoa, trầm, trà, rượu, hoa quả mà thôi. Ngày xưa sau đêm lễ có rất nhiều trò chơi như thi thổi cơm, thi đua thuyền, thi chọi trâu, hội thi chọi gà, hội thi kéo co, thi bơi trãi, thi vật, thi cày, thi cuốc đất khô… Hội thi thổi cơm dành cho phụ nữ có con nhỏ dưới một năm tuổi. Người phụ nữ này là đại diện xuất sắc đã qua vòng sơ tuyển của xóm. Trước lúc đi vào cuộc thi, ban tổ chức vạch sẳn một vòng tròn cho từng người (đường kính vòng tròn khoảng một mét), chính giữa tâm vòng tròn có cắm một cọc. Người ta dùng một sợi dây dài hơn một mét buộc một đầu vào cọc, còn đầu kia buộc vào một con cóc khoẻ. Bước vào cuộc thi, người phụ nữ một tay vừa bồng con dại đang khóc vì đói sữa, tay kia giữ cho con cóc không nhãy ra khỏi vòng tròn, đồng thời tiến hành thổi một nồi cơm nếp ở trong niêu đất đun bằng rạ (sau này thì bằng bã mía). Người nào nấu xong nồi cơm nếp chín trước mà con cóc không nhãy ra khỏi vòng tròn, người đó thắng cuộc. Hội thi này thể hiện tính đảm đang, chịu thương, chịu khó của người phụ nữ trong việc nội trợ gia đình. Hội thi đua thuyền thì gồm một xóm một chiếc ghe trang trí kiểu thuyền rồng. Mỗi thuyền gồm chín thanh niên mạnh khoẻ, quen sông nước, trong đó có một thuyền trưởng cầm lái, còn lại tám người cầm bơi chèo. Trang phục của các đội không giống nhau, tuỳ theo sở thích thiết kế. Khi nghe tiếng trống, các đội dàn hàng ngang từ điểm xuất phát bước vào cuộc đua. Ai về đích trước thì thắng cuộc. Hội thi chọi trâu thì chọn khoảnh đất bằng phẳng có dựng hàng rào bao quanh kiên cố. Những con trâu được chọn vào cuộc đấu là những con trâu đực to khoẻ, bộ sừng vuốt hình vòng cung được chuốt nhọn ở đầu sừng. Khi nghe tiếng lệnh, hai chủ trâu sẽ thả trâu của mình ra đấu trong ba hiệp; trống thúc liên hồi, tiếng cổ vũ náo nhiệt, để kích thích sự hăng máu của chúng. Con trâu nào thắng hai hiệp thì thắng cả trận, nếu hoà hai hiệp đầu thì vào chung kết. Hội thi chọi gà cũng lắm công phu. Trước ngày vào hội, các chủ gà thường săn sóc gà chọi rất kỹ lưỡng cho nó ăn, tẩm bổ chế độ cao, dùng rượu có pha mã tiền nắn bóp đầu, ức và đôi chân, cựa gà được vuốt nhọn và thường có những cuộc đấu tập dợt để rèn cho nó tính can đảm, khả năng chịu đòn cao. Thể lệ thi đấu cũng đơn giản, một vòng tròn được vạch ra, hai chú gà đấu ở vòng tròn đó, con nào ra khỏi vòng coi như thua. Bên cạnh những hội thi trên có một số hội thi khác như thi kéo co, thi vật, thi cày, thi cuốc đất khô… nhưng ngày nay do hoàn cảnh sống có những đổi thay nên những trò chơi ấy không được duy trì nữa, và chúng tôi không thể kể hết ra đây được. Đây quả là điều đáng tiếc vì những cuộc thi này không chỉ nhằm giải trí, giải toả những mệt nhọc sau những ngày tháng lao động vất vả của người dân mà còn là sự giao lưu trí tuệ, tình cảm con người, cố kết thêm mối quan hệ cộng đồng bền vững. Lễ hội Kỳ Yên trước hết là một tín ngưỡng, thể hiện niềm khát vọng về một cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc. Nó cũng phản ánh một đời sống tâm linh hết sức phong phú của dân làng Nại Cửu đúc kết thành một chữ đạo với tất cả ý nghĩa nhân bản nhất của từ này: thành kính, hướng vọng về tổ tiên, về cội nguồn khởi phát làng, biết ơn những vị anh hùng có công với quê hương, đất nước, kính trọng và sùng bái những vị khoa bảng mang lại tiếng thơm muôn thưở làm rạng danh hậu thế. Lễ của làng chắc chắn sẽ thấm sâu vào máu thịt từng con người biến thành chữ lễ trong bản thân họ, một phẩm chất không thể thiếu được trong “ngũ thường” (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín) mà đạo đức học phương Đông đã dạy. Hơn thế nữa, lễ hội Kỳ Yên này còn là một sinh hoạt văn hoá tinh thần lành mạnh làm phong phú thêm bản sắc con người làng Nại Cửu giúp họ vững tâm hơn trước sóng gió cuộc đời, chống lại một cách có hiệu quả nguy cơ của những sản phẩm văn hoá độc hại, tư tưởng lai căng sùng ngoại, lối sống thực dụng từ trong mặt trái của cơ chế thị trường. Đất nước ta ở vào giai đoạn đổi mới toàn diện, đang ở trong quá trình mở cửa, giao lưu, hội nhập với văn hoá thế giới thì vấn đề khôi phục và giữ gìn một lễ hội dân gian với tất cả những yếu tố tích cực của nó là một việc làm có ý nghĩa thiết thực, nhân bản và đó chính là một trong những cách để bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc. Lễ Kỳ Yên ở đình Nại Cửu hàng năm cứ được diễn ra, từ đây biết bao con người của thôn làng Nại Cửu đã thành danh trên nhiều lĩnh vực và hàng năm vào ngày rằm tháng bảy dù ở đâu, bận rộn công việc gì cũng đều cố gắng tìm về cuội nguồn, thắp nén nhang cầu nguyện trước bàn thờ tổ tiên. Đó cũng chính là đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam ta. Vì thế, đứng về phương diện văn hoá học, lễ hội Kỳ Yên ở đình làng Nại Cửu là nên duy trì và phát triển những yếu tố tích cực của nó, vì đó là niềm tin, niềm khát vọng hết sức trong sáng của dân Nại Cửu và cũng rất phù hợp với đường lối văn hoá mới của Đảng và Nhà nước ta. Tuy nhiên ở đây phần lễ thì nhiều nhưng phần hội hầu như không còn, nên chăng cần khôi phục các trò chơi như đã nói trên và có thể thêm phần sinh hoạt văn nghệ quần chúng sau khi hành lễ để góp phần phong phú và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần người dân. (Bài viết này đã được Ban biên tập Tạp chí Cửa Việt biên tập lại và đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 42 và số 43 vào tháng 3 năm 1998)

Lần cập nhật cuối lúc Thứ hai, 02 Tháng 7 2012 16:06
 
Thị xã ôm thành cổ vào lòng PDF. In Email
Viết bởi Hoàng Công Danh   
Thứ tư, 24 Tháng 2 2010 22:40
Thị xã ôm vào lòng một Thành Cổ Quảng Trị, thị xã hôn lên dòng mồ hôi đá Thạch Hãn, thị xã liếc mắt đưa tình sang cầu Ái Tử; tôi muốn dành những động từ âu yếm nhất để nói về thị xã nhỏ bé này, giản dị hiền lành đến nỗi cái tên cũng phó mặc cho quê hương - người ta gọi là Thị xã Quảng Trị.

Ba giờ sáng, từ Khánh Hoà chị Mắt chat và nói với tôi rằng chị ước được về Quảng Trị một lần. Để mần chi? Để đi vào thăm Thành Cổ, chị thích bài hát Cỏ non Thành Cổ của nhạc sĩ Tân Huyền. Tôi lặng người đi sau câu nói của chị, và cảm thấy như cái khoảng cách vô hình mà internet tạo ra được xoá trắng để kéo con người ta lại gần nhau hơn. Trong rất nhiều những bài hát về quê hương Quảng Trị thì Cỏ non Thành Cổ là bài tôi ít khi hát nhất, bởi nó có một đoạn nhạc lên rất cao; hơn nữa, mỗi lần hát tôi lại chạm vào nỗi buồn của thế hệ đi trước, lại thấy mình như có lỗi với đất cỏ quê nhà. Nhưng hôm nay tôi sẽ mượn lời cỏ để hát về thị xã của mình, hát bằng vĩ thanh của tiếng đàn mà ngọn gió phơn qua lá để lại từ những năm về trước.

Ngày nhỏ tôi hay lên về thị xã chơi, khi thì với bạn, lúc đi với ông, và nhiều lần thì một mình ngẩn ngơ vừa đi vừa ngắm như chú dế du ca. Tôi đi theo con đường có dấu chân trẻ thơ một thời của những Lê Duẩn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lê Bá Đảng... - con đường nối thị xã Quảng Trị với vựa lúa Triệu Phong quê mẹ. Ký ức về thị xã những ngày ấy còn lại trong tôi chỉ là một trường Bồ Đề hoang tàn đổ nát, những dấu bom vết đạn đã đục thủng đi rất nhiều trên vách đá, rêu mọc lên xanh một màu buồn buồn.

Sau này tôi có ba năm liên tục lên về thị xã ngày ngày để học phổ thông. Mỗi sáng đạp xe chín cây số lên trường, trưa lại đạp chín cây số về nhà. Một đoạn đường Lý Thái Tổ ngắn chưa đầy năm trăm mét dẫn từ đường chính vào trường, đó cũng là đoạn đường chạy ngang trước Thành Cổ. Tôi còn nhớ mấy câu thơ viết thời lớp 10 thế này: “mỗi buổi chiều nắng về tha thiết/ tà áo ai vương vấn góc đường/ trắng xôn xao trong lòng Thành Cổ/ áo dài bay bay khắp muôn phương”. Đó là cái thời còn vụng dại ngây ngô, nhưng chí ít tôi biết thị xã của mình có một Thành Cổ đáng để nhớ, để ghi tạc vào thơ vào lòng. Có nhiều buổi trưa ở lại để chiều học tiếp, tôi đi vào Thành Cổ, thả chân trên cỏ và hình như đã vô tình giẫm phải điều gì đó quá huyền nhiệm mà mãi mãi tôi không tự mình lí giải được. Sau này tôi viết vào thơ mấy câu thắc thỏm: “Quảng Trị ơi!/ Không lí giải cho tôi nỗi đau/ Máu và hoa hoà nước sông ôm chầm Thành Cổ”.

Hồi đó tôi học trường Trung học Phổ thông Thị xã Quảng Trị, trước đây có tên là trường Nguyễn Hoàng. Tôi cũng không rõ vì răng một cái tên trường thiêng liêng lịch sử như vậy lại bị/ được đổi đi, trong khi ai cũng biết chúa Tiên - Nguyễn Hoàng đã từng chọn Ái Tử để đóng dinh phủ. Thầy giáo đứng lớp kể rằng cái thời trường mình còn mang tên trường Nguyễn Hoàng ấy, cứ đi vào Huế thi mà thấy đeo bảng tên Trường Nguyễn Hoàng là thí sinh xứ khác rất sợ! Khi tôi đi thi đại học sư phạm Huế, tôi mặc chiếc áo trắng có tấm bảng tên đề trường Trung Học Phổ Thông Thị Xã Quảng Trị và thấy những ánh mắt là lạ nhìn mình. Một giám thị cuối giờ thi đến gặp tôi bắt tay nói hẹn gặp lại cậu tại giảng đường. Tôi ngớ mặt ra không hiểu. Vị giám thị nói học sinh trường Thị xã Quảng Trị thi phải đỗ chớ răng nữa? Và tôi đỗ thật! Ngày vào nhập học tôi vẫn mang chiếc áo đó, cái bảng tên chữ đỏ vẫn trên ngực, tôi cảm thấy tự hào. Bây giờ trường đã được xếp chuẩn Quốc Gia. Lại nghe đâu hội cựu học sinh Nguyễn Hoàng ở Đà Nẵng đang chuẩn bị kiến nghị hoàn quy lại tên trường. Tôi không không đủ khả năng phân tích để có ý kiến thuyết phục, nhưng tôi nghĩ rằng điều đó là cần thiết.

Buổi sáng, màn sương bọc lấy thị xã như tấm áo của tiên nữ vô tình cởi ra rồi đánh rơi xuống. Chính làn sương mỏng mảnh ấy khơi gợi cho tuổi trẻ chúng tôi những mối tình học trò đáng yêu. Lớp tôi học tầng một, lớp nàng học trên tầng hai. Mỗi sáng trước giờ học nàng đều ra đứng ở hàng lang ngắm bọn học sinh lớp Toán đá cầu, và tôi lặng lẽ đứng dưới này ngước nhìn lên một cách thần bái, ngưỡng mộ vẻ đẹp của nàng. Hôm sau đánh liều viết bài thơ gửi lên tặng nàng. Nàng nhận thơ rồi từ đó không bao giờ ra đứng ở hành làng nữa, ánh mắt tôi dõi lên gặp một khoảng trống buồn mơ hồ. Một hôm gió đâu chạy qua khiến trang thơ tôi bay từ tầng hai xuống, thị xã trêu ghẹo những anh chàng máu me thi sĩ theo kiểu đó.

Năm tôi học lớp 11, có dạo bà con thị xã nhao nhao lên chuyện tìm thấy nhiều hài cốt liệt sĩ dưới những nhà dân. Điều đó chẳng có gì kì lạ, bởi sự thật cay đắng mà lịch sử để lại trên mảnh đất này đã chứng minh, từ đó tôi mang theo nỗi ám ảnh bi thương của thị xã. Khi đọc nhà văn Nguyễn Quang Lập viết về chuyện ma ở thị xã Quảng Trị thì tôi tin là có thật. Tôi cũng đã từng thắc thỏm không rõ tại vì răng nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường lại chọn thị xã Quảng Trị để làm trụ sở toà soạn tạp chí Cửa Việt mà không phải là Đông Hà? Cho đến khi đọc bút ký “Đêm chong đèn nhớ lại...” (HPNT- Cửa Việt số 6, xuân Tân Mùi - 1991) mới vỡ lẽ ra là bởi mảnh đất Thành Cổ quá thiêng liêng, ở đó có âm vọng của những liệt sĩ đã anh dũng nằm lại vẫn thắc thỏm ngày ngày gửi lên những tín hiệu tâm linh.
Hình như có một “nỗi oan” thị xã (?). Thầy giáo tôi nói nhẽ ra trung tâm tỉnh lỵ phải nằm ở đây chứ không phải Đông Hà, nhưng tại vì răng cho đến chừ cả thị xã vẫn không giàu lên được, không có một cái khách sạn nào cả, khác hẳn với Đông Hà? Dẫu vẫn biết cùng một mạch nước móng đất thì không nên phân lê so bì, vậy mà thầy tôi vẫn buồn; ráng chiều ngày hạ!

Có nhiều trưa tôi lên chợ ăn một dĩa cơm bụi hai nghìn rưỡi rồi về ngồi bên bờ sông Thạch Hãn sau lưng thị xã. Gió chạy ngoài sông vào hát mấy câu thơ của nhà báo Lê Bá Dương, “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ!/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm...”. Sau này có dịp được nói chuyện với bác Dương, tôi càng thấm thía hơn nỗi lòng của một người lính xứ Nghệ nguyện yêu Quảng Trị đến vô cùng! Dọc bờ sông là con đường nhỏ nằm hứng lá bàng, dưới đất mọc lên rất nhiều những cây bàng con; và tôi hiểu rằng sau khói lửa chiến tranh thì thị xã lại vươn lên mạnh mẽ, cả cây cối thiên nhiên và con người.

Hằng năm, cứ vào dịp lễ 27/7 sông Thạch Hãn lại mở hội - hội của dòng sông và hội của lòng người. Đêm hôm đó tôi đứng bên bờ, bấy giờ đã được bồi kè bằng bê tông, thế nhưng cỏ vẫn rợp triền sông, cỏ chen vào giữa những kẽ nứt xi măng và rung lên theo từng đợt gió đêm. Từ trên phía cầu Ga, những ánh lửa đèn hoa được thả trôi về, rồi ánh lửa lan ra khắp mặt sông cứ lập lờ lập lờ chạy chầm chầm về, chầm chầm vào...lòng người. Nghe như dưới đáy sông kia tiếng của các liệt sĩ đang hát khúc quân hành, lại như có câu hò ở bên kia, hò rằng “à ơi! Mẹ thương con ra cầu Ái Tử”; một người mẹ làng Nhan Biều đứng khóc, trong đêm nước mắt chạy lên trời thành sao.

Thị xã có ba con đường chính, chạy song song nhau: đường lớn nhất nối từ Quốc Lộ chạy về Cửa Việt; theo hướng đó, phía bên phải là đường chạy qua trước mặt nhà thờ Trí Bưu, phía bên trái là con đường men theo bờ sông Thạch Hãn. Ở đoạn cuối con đường bờ sông có chùa Tỉnh Hội. Ngày nhỏ, hễ cứ nhắc đến thị xã Quảng Trị là tôi nghĩ ngay tới chùa Tỉnh Hội, có lẽ vì tôi là con nhà Phật! Sau này tôi hay ghé vào một ngôi nhà nhỏ bên phải chùa để mua giấy văn sớ cho ông nội. Dần dà, cái góc nhỏ bé kết lại thị xã này trở thành điểm tụ tâm linh đối với tôi.

Thuở đó tôi quen bác Tình bán quán ở đầu đường Lý Thái Tổ. Bác Tình thương binh, cụt một chân. Quán bác thực chất chỉ là một cái chòi xe dùng để bán mì xíu và vé số kiến thiết. Tôi hỏi: xưa bác đi chiến đấu, giờ bác bán mì với ước mong bà con no đủ và vé số để kiến thiết lại quê hương, đúng không? Bác nói đó là một nhẽ, nhưng cái quan trọng là bác thích ngồi ở đây để chỉ đường cho những ai tìm về thăm Thành Cổ. Bất giác tôi ngoái đầu lui, Thành Cổ nằm sau lưng mình đó tề, sau lưng khung trời hoà bình, sau lưng nhưng không thể nào có thể lãng quên được!

Quầy sách của chị Vân nằm ở trước cổng chợ Quảng Trị. Thời học cấp ba, tôi hay lên chỗ chị mua sách. Chị Vân xinh đẹp, hiền tính và nhiệt tình. Chị cho đem sách về nhà xem một ngày, sau đó nếu thích thì mua, không thì trả lại. Tôi học lớp toán nên được rèn cho thói quen đọc sách rất nhanh, vì vậy nên sách lấy ở quầy chị Vân về thì hôm sau tôi đã đọc xong và đem lên trả lại; con nhà nghèo thì phải học theo cách đó thôi! Có một lần tôi đi vào trong chợ, nhìn thấy một mệ ngồi dưới đất bán thuốc lá. Tôi nhận ra cái gói thuốc lá Mélia người ta đã thôi hút và ngưng sản xuất lâu rồi mà mệ vẫn có. Tôi mua lấy vài gói, hỏi mệ mấy tiền? Mệ nói hai ngàn một gói. Lạ thật! Trong khi giá cả đời sống tăng vùn vụt mà thuốc Mélia của mệ vẫn bán giá của mười năm về trước, cái thời tôi hay đi mua thuốc cho ông nội nên biết rõ. Gói thuốc lá Mélia vỏ giấy màu xanh, điếu thuốc đót trắng và mùi thơm bạc hà giống hệt thuốc Dunhill thượng hạng, chỉ có điều thuốc Dunhill thì điếu dài hơn. Tôi nhìn mệ và chợt nghĩ, mệ là một nhân chứng thời gian của thị xã chăng? Nghĩa là mười năm rồi nét văn hoá của thị xã vẫn được bảo lưu, như lịch sử và tính cách người Quảng Trị mãi mãi vẫn như thế!

Có bận tôi chở Hạnh - người bạn gái cùng làng - lên thị xã uống cà phê. Bấy giờ thị xã đã khấm khá hơn, đường phố có đèn đỏ đèn xanh và tất nhiên là có cả công an giao thông. Đến chỗ ngã tư chùa Tỉnh Hội thì có ba chú công an đứng chắn ba hướng. Tôi không có bằng lái xe, đành phải gửi xe máy lại trong quán bún và đi bộ lên. Tôi đi với Hạnh gần hết quãng đường chính của thị xã, sáng hôm ấy trời xuân trong vắt, đẹp đến lạ! Lá phượng ven đường lắc nhắc rơi vào tóc Hạnh, tự dưng thấy lo lo, biết đâu Hạnh sẽ như cô gái trong thơ Nguyễn Bính: “hôm qua em đi tỉnh về/ hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”. Rồi tôi trấn an ngay bằng cách trở lại câu chuyện mệ bán thuốc lá trong chợ thị xã. Tôi tin thị xã có khấm khá hơn, nhưng tâm hồn con người quê mình thì sẽ còn đẹp mãi chất hồn hậu Đông phương.

Thời sinh viên, cứ mỗi lần về nhà, tôi đi trên chuyến “tàu chợ” từ Huế, ra tới ga Quảng Trị tàu dừng. Tôi dắt xe xuống và đạp thư thả dọc con đường ngang qua thị xã, hồ như những giọt sương ban mai đang lúng liếng nhìn mình, tôi nghe được những tiếng rao bán đậu hũ, cả tâm hồn của thị xã sau mấy tháng trời gặp lại, mỗi lần như cứ khắc sâu thêm.

Đến lúc sắp bay đi học, tôi lên thị xã bắt xe ra Hà Nội, buổi chiều hôm ấy sao nắng lại buồn đến thế? Hay là chính là tâm trạng tôi đang buồn? Mắt tôi ngỡ như nhoà đi giữa một chiều mùa hạ không có lấy một hạt mưa. Tôi nhủ anh trai chạy xe chầm chậm để được ngắm một lần cuối cùng thị xã của mình, nước ngoài sông Thạch Hãn như đang vỗ sóng vào sâu thẳm lòng tôi. Trong lúc chờ xe, tôi ngồi ở chỗ ngã ba nối đường Quốc Lộ với trục đường chính của thị xã. Phía trời tây, hoàng hôn sửa soạn chăn mây gối núi chuẩn bị đi ngủ; và từ dưới Thành Cổ chợt có một tiếng chuông ngân lên rồi kéo dài mãi mãi...

Minsk 1.2009.
 Viết trên nhạc nền Cỏ non Thành Cổ qua giọng ca Nhã Phương
HOÀNG CÔNG DANH
Lần cập nhật cuối lúc Thứ tư, 24 Tháng 2 2010 22:58
 
Nội và quê hương PDF. In Email
Viết bởi Trần Thảo Vi   
Thứ tư, 24 Tháng 2 2010 22:20
Biết bao lần con ghé về thăm quê, nhưng không còn thấy bóng dáng nội đứng trong ngóng con ngoài hiên nữa. Không có nội để chạy lại ôm chinh, vuốt râu như những ngày con từ Huế ra thăm quê nữa nội ơi. Ngày ấy, khi con còn quá nhỏ, quê hương đang nghèo đói, những miếng ăn cái mặc còn thiếu trước hụt sau. Cuộc sống chật vật, vất vả, chắc chưa bao giờ nội có những bửa cơm đầy bụng để vác cuốc ra roọng làm việc đồng áng nặng nhọc đâu nội hỉ? Nhưng rồi thời gian cũng trôi qua, như số phận đã an bài, phải chịu đựng cảnh nghèo nàn, cực nhọc gánh trên đôi vai.

Những ngày thơ ấu con được theo nội đây đó, nội thương con hơn mấy đứa cháu khác của nội, được nội đem đi ăn kỵ, đám cưới .....thích thú nhất là cùng nội tung tăng trên cánh đồng của quê hương. Rồi 3 tháng hè qua thật nhanh, con lại phải vô ở với ngoại để nhập học. Cứ vài tháng con mới được ra Quảng Trị thăm nội một lần, rồi ....một ngày con nghe tin nội đang hấp hối ở Phò Trạch. Biết là nội đang đau nặng nhưng làm sao biết hấp hối là gì?

Nội được đưa ra Quảng Trị để gần con cái và chờ giây phút cuối cùng của hơi thở. Trước khi nhắm mắt nội nói với ba rằng "đem cháu ra cho ôông gặp cháu chút". Những lời trăn trối cuối cùng của nội chắc không đời nào con quên nội ơi. Cậu đã đưa con ra đúng lúc được nhìn nội lần cuối. Nội ôm con trong tay và dặn ba mạ "con dớ lo cho cháu" rồi thiếp đi, và nội đã ra đi mãi mãi.

Giờ đây, cuộc sống khá giả và đầy đủ thì con lại mất nội, khi con quay về thăm quê hương nội không còn nữa, con luôn nhớ chổ nội nằm ngàn thu vĩnh viển. Ra đến mộ thắp cho nội nén nhang để nội biết rằng con vẫn bình an vì luôn có nội bên cạnh.
 
Lời nguyền cỏ hoa PDF. In Email
Viết bởi Hoàng Công Danh   
Thứ tư, 24 Tháng 2 2010 22:14
    Khi nặn ra cỏ hoa, Thượng đế cho mỗi loài một lời nguyền để giữ gìn sự sống và xác tín sự có mặt của mình. Có lẽ vì điều này nên hầu như bất cứ loài hoa loại cỏ nào ở quê nhà cũng đều cố hữu một niệm thiêng và hóa hợp thành linh hồn.

1. Ở làng có một loài hoa màu đỏ chót nở bung ra như những phát pháo bông. Hoa thì đẹp, nhưng cái tên lại tục tĩu và lời nguyền của nó cũng rất độc ác! Người ta gọi là hoa Lẹo. Hoa Lẹo hay mọc ở những nơi có nhiều xác chết, ví dụ như cồn nghĩa trang, bãi tha ma, hoặc mấy chỗ ngày xưa lính tráng chết nhiều. Những lần đi tham quan di tích chiến tranh ở quê mình, tôi đều thấy hoa Lẹo mọc rất nhiều. Chẳng hạn như ở Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trường Sơn, hoa Lẹo mọc phía sau rừng cây; ở Thành Cổ Quảng Trị thì hoa mọc ven phía sau bờ thành gạch, màu đỏ bông hoa bật lên như máu. Ở chỗ ngã ba đường vào nhà tôi, vào mùa hè đi ngang qua đó đều bắt gặp một đôi chùm hoa Lẹo. Ông nội nói chỗ ngã ba nớ ngày trước có một đám lính bị trúng bom, có lẽ vì vậy mà mọc lên ở đó một cây hoa Lẹo.

Nếu ta nhìn chằm chặp vào hoa Lẹo thì về nhà mắt sẽ sưng đỏ lên, gọi là bị bệnh mắt lẹo. Có lẽ hoa đã giữ một lời nguyền, rằng: "Đứa nào nhìn tao thì tao sẽ lẹo cho đỏ con mắt lên!". Để giải thiêng lời nguyền ấy, trẻ con chúng tôi thường truyền nhau một cái mẹo, hễ khi nào nhìn thấy hoa thì hãy nhẩm trong miệng: "Lẹo ai thì lẹo, xin đừng đừng lẹo tui!". Nhờ câu nhẩm ấy mà hoa không làm hại những đôi mắt trẻ thơ. Phải chăng hoa cũng biết lắng nghe?

2. Có hai loại hoa giữ cùng một lời nguyền, nhưng lại biểu hiện khác nhau. Đó là hoa Trinh Nữ và hoa Nứt Nẻ. Lời nguyền của chúng rất dễ thương, rằng: "Anh đừng có chạm vào em, em sẽ ngại lắm đấy!".

Hoa Trinh nữ nhiều người biết rồi, nếu chạm tay vào thì lá nó cụp lại một cách e lệ như những cô gái đến tuổi biết yêu; nó khư khư giữ mình như các cô gái giữ trinh tiết cho cuộc dâng hiến đẹp nhất - chính vì thế có tên Trinh Nữ. Ở làng mình, cỏ Trinh Nữ còn được gọi là cỏ ngủ, tại khi chạm tay vào thì lá nó khép lại như mi mắt vừa nhắm.

Hoa Nứt Nẻ lại kết chiếc búp xinh xắn như hai bàn tay chụm lại. Nếu ta chạm nhẹ tay vào chiếc búp đó thì ngay tức khắc nó bật nở ra thành một bông hoa đẹp. Cũng nhờ việc bung đó mà những hạt giống hoa văng ra, rồi vài bữa sau cây con mọc lên xung quanh. Bàn tay con người chính là tác nhân cho cuộc sinh sản của loài hoa này. Hay nói cách khác, khi con người giải thiêng cho hoa Nứt Nẻ thì đồng nghĩa với việc cho phép chúng được sản sinh. (Cũng như ở Ấn Độ có chuyện Nữ thần đồng trinh Savitri vậy. Nàng Savitri giữ một lời nguyền của thần thánh để đảm bảo cuộc sống an lành cho thần dân. Chừng nào nàng trinh nữ còn làm Savitri thì chừng đó nàng phải nắm giữ một lời nguyền là không được chung đụng với đàn ông).

3. Hoa Cỏ may lại mang trong mình lời nguyền hẹn ước. Cỏ may mọc nhiều ở những bãi đất, đường đê hay trên chân ruộng. Trai gái ở làng yêu nhau hay hò hẹn ra đê ngồi tình tự, hoặc đi làm đồng cùng nhau. Khi ấy hoa Cỏ may bám vào đũng quần như ấn định một lời nguyền: "Tao găm vào cho chúng bây ưng chắc mãi mãi... ". Bởi thế nên người nhà quê yêu nhau chân thật và sống được với nhau lâu dài. Bây giờ trai gái yêu nhau mau chia tay là vì họ dẫn nhau đi những chỗ sang trọng, họ quên mất rằng chính những nơi dân dã tự nhiên quê mùa có loài hoa Cỏ may giữ giúp tình yêu một lời nguyện ước vĩnh cửu.

4. Hồi nhỏ, lũ trẻ chúng tôi hay ngắt hoa bậy bạ ở ngoài đồng để ăn. Hoa Me cánh hồng tím chua chua; hoa Mâm xôi đầy lên như đĩa xôi gấc đỏ, ăn vào ngọt lịm; hoa Cẩn cái có cuống tim hút ra nước mật bùi bùi. Ăn xong thì mấy đứa khoác tay sang vai nhau vừa đi vừa hát một khúc đồng dao và làm động tác tương ứng: "Bạn bè, cặp kè. Ăn rau Mè, ngồi xuống. Ăn rau Muống, đứng dậy. Ăn tầm bậy, ngả ra". Chính trò chơi với cỏ hoa quê hương ấy đã nhắn nhủ với chúng một lời nguyền, rằng: "Đã coi nhau là bạn thì sống cho tử tế với nhau. Đứa nào làm chuyện bậy bạ ta sẽ bắt nôn cho lòi cuống hoọng ra!". Đó là lời nguyền đẹp nhất mà chưa bao giờ chúng tôi muốn giải thiêng.

Minsk 5.2009
HOÀNG CÔNG DANH
 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

Trang 1 trong tổng số 10
Copyright © 2014 Bản quyền thuộc về QTO.
Joomla! là phần mềm miễn phí được lưu hành theo giấy phép GNU/GPL.

Môt số hình ảnh của bà con Quang trị khắp nơi

 
Ba con QT an tiet canh o NY
Ba con QT an tiet canh o NY
Be ve tham que Le xuyen
Bui tre sau nha anh Cuong o NY
Can dam, be Nhugn con anh Tuan, Long an
Cau treo Dakrong
Chap mo o Le xuyen, QT
Cho Ho xa
Chua QT
Chum khe ngot
Cong lang
Dong huong QT o Sai gon (2)
Dong huong QT o Sai gon
Dong huong Quang tri o Philadelphia va phu can
Duong Dong ha
Gia dinh anh Thang va chu Ngoc
Khe chua cham muoi
Me gia lang que ngay nay
Mot bua ky cua ba con QT o Phialadelphia
Mot bua tiec tai nha nah Thang, NY
Mot buoi gap mat anh em QT o Philadelphia
Mot goc nhin cua lang Le xuyen, QT
Mot so thanh vien QTO
Nam moi o New York
Nghia trang liet si Trieu son
Nha anh Cuong o NY
Sinh nhat con anh Cuong o NY
Sinh nhat mot ban nho Quang tri o NY
Tet VN do Phai doan VN tai LHQ to chuc
Tet o nha anh Thang, New YOrk
Tiet canh
Truong cap 3 Thi xa Quang tri, truoc day la Nguyen Hoang
Truong tieu hoc Trieu tai
Tu truong bo de nhin xuong, anh Leducduc
Tuoi tho, Hai con anh Tuan o Long an
Tuoi tho, anh chup tren doong Le xuyen
Viet bai cung lang
ba con Philadelphia qua tham nha Trelang
hai be con cua anh Tuan, Longan